Khi còn nhỏ, tôi cứ băn khoăn mãi một điều, rằng tại sao tết Tây là ngày 1 tháng 1 dương lịch, được coi là ngày đầu tiên của năm mới, nhưng lại rơi vào khoảng giữa mùa Đông?

Sau này lớn lên tôi mới hiểu, vào năm 46 trước Công nguyên, ngay sau khi trở thành ông vua độc tài của Đế quốc La Mã, hoàng đế Julius Caesar với mong muốn xóa bỏ một số nền văn hóa, ông đã quyết định cải cách lịch. Julius đã tham khảo ý kiến của các nhà thiên văn học và toán học nổi tiếng nhất thời bấy giờ, đặc biệt là sự trợ giúp của Sosigenes, một nhà thiên văn học người Alexandrian. Sogigenes đã khuyên nhà vua đoạn tuyệt hoàn toàn với lịch tính theo chu kỳ mặt trăng, chuyển hẳn sang lịch tính theo chu kì mặt trời, cũng giống như người Ai Cập.

Đọc thêm bài viết có thể bạn quan tâm: Câu chuyện buồn cho một cô gái tài năng Tiểu Gia Huy

Trước đó, lịch La Mã ra đời từ thế kỉ thứ VII trước Công nguyên, cách tính lịch theo chu kì mặt trăng mỗi năm có 304 ngày, còn gọi là lịch âm. Hạn chế của lịch này là cứ bị lệch pha với các mùa. Ngoài ra, các giáo hoàng hay tự tiện thêm bớt ngày vào các tháng và các năm, để phục vụ cho mục đích chính trị hay bầu cử, vì thế mà lịch âm La Mã liên tục bị sai nên thường xuyên phải sửa chữa từng năm, thậm chí là sửa từng tháng cho chuẩn lại.

Lịch âm về sau tính chính xác theo chu kì mặt trăng = 354 ngày.

Cơ Đốc giáo sử dụng lịch tính theo mặt trời vào khoảng 1400 năm trước Công nguyên, còn gọi là lịch dương, mỗi năm có (365 + 1/4) ngày, lấy ngày xuân phân 25/3 là ngày đầu tiên của năm mới. Julius quyết định cộng thêm 67 ngày vào năm 46 trước Công nguyên để mọi chuyện kết thúc.

Hoàng đế Julius Caesar cũng đưa ra quyết định: Ngày 1 tháng 1 dương lịch là ngày đầu tiên của năm mới!

Tết Dương lịch, còn gọi là Tết Tây, tiếng Anh là “New Year” được mặc định là ngày 1 tháng 1, bắt đầu từ năm 45 trước Công nguyên. Nhưng bản thân Sosigenes không tính chính xác được con số mỗi năm có 365.242199 ngày, nghĩa là 1 năm theo lịch Julius bị hụt mất 11 phút, vì thế mà năm 1000 phải cộng thêm 7 ngày. Đến năm 1582, Giáo hoàng Gregory XIII đã ủy thác cho nhà thiên văn học dòng Tên Christopher Clavius để đưa ra một lịch mới, sau khi tính toán chính xác Clavius đã phải cộng thêm 10 ngày vào năm này, từ đó ra đời lịch Gregorian áp dụng khắp thế giới cho đến tận hôm nay.

Trung Quốc nghĩ ra lịch sớm nhất thế giới, gọi là “nông lịch – 农历”, mỗi năm có 354 ngày. Theo tác giả Herbert A. Giles và hầu hết các tác giả khác nghiên cứu về lịch Trung Quốc, thì năm đầu tiên của nông lịch được tính từ 2637 trước Công nguyên, với chu kì một kỉ nguyên là 60 năm. Nông lịch là một loại “âm dương lịch”, tức là vừa tính theo mặt trăng, vừa tính theo mặt trời; chính vì thế mà “nông lịch” không mắc phải những hạn chế như lịch âm và lịch dương của thế giới phương Tây.

Đến nay mọi người trên khắp thế giới sử dụng 2 hệ thống lịch: một là lịch dương để quyết định đó là ngày nào và chấm công; hai là lịch âm đối với phương Tây và nông lịch (vừa âm vừa dương) đối với Á Đông để xác định thời tiết, mùa vụ, lễ hội, cùng các hoạt động tâm linh và tín ngưỡng.

Đọc thêm bài viết: Đàn bà một đời chồng như đoá hồng kiêu hãnh nhưng đầy gai gốc

Người Á Đông ăn tết nông lịch lâu đời nhất: khoảng 4000 năm về trước!

Trung Quốc, Đài Loan, hay các quốc gia có người gốc Trung Quốc như Singapore, Phillipine, Malaysia sử dụng 3 tên gọi phổ biến cho tết.

– Nông lịch Tân niên (农历新年)
– Nguyên Đán (元旦)
– Xuân Khiết (春洁)

Chữ nguyên (元) trong Nguyên Đán có nghĩa là đầu tiên, thuộc bộ nhân đứng (儿) có chữ nhất (一) ở phía trên. Chữ đán (旦) có nghĩa là ngày, thuộc bộ nhật (日) ở trên chữ nhất (一). Nguyên Đán có nghĩa là ngày đầu tiên của năm nông lịch, nhưng trong thực tế, thời gian ăn Tết Nguyên Đán kéo dài bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng.

Hàn Quốc gọi Tết Nguyên Đán là Seolnal (설랄).

Việt Nam sử dụng các tên gọi như: Tết Cổ truyền, Tết Âm lịch, Tết Ta, Tết Cả; nhưng cách thông dụng nhất vẫn được dùng là Tết Nguyên Đán.

Tại sao Tết Dương lại thống trị với người phương Tây?

Có nhiều cách giải thích, nhưng tôi chọn cách giải thích theo góc nhìn về sự tương đồng văn hóa và sự thống trị áp đặt qua chiến tranh. Hofstede và Huib Wursten thực hiện nghiên cứu lượng hóa theo 6 chiều (còn gọi là 6 kích thước) của nền văn hóa một quốc gia, đã phát hiện ra thế giới có tất cả 7 loại hình văn hóa.

1. Tranh luận (Contest)
2. Mạng lưới (Network)
3. Máy móc (Machine)
4. Hệ mặt trời (Solar System)
5. Kim tự tháp (Pyramid)
6. Gia đình (Family)
7. Nhật Bản (Japan)

Các quốc gia phương Tây chủ yếu là 5 loại hình văn hóa đầu tiên = Tranh luận + Mạng lưới + Máy móc + Hệ mặt trời + Kim tự tháp. Loại hình văn hóa “Gia đình – Family” chỉ tìm thấy ở các quốc gia Đông Á, nơi có sự phân cấp thứ bậc, giá trị tập thể được đề cao hơn giá trị cá nhân, định hướng hiệu suất thay vì chất lượng cuộc sống, chấp nhận rủi ro thay vì tối ưu hóa để tránh né rủi ro. Người Á Đông với đặc tính linh hoạt tương đối, các quy tắc được áp dụng tùy từng tình huống; điều đó khác với thế giới phương Tây, nơi từ cá nhân con người cho đến xã hội có đặc điểm rất nguyên tắc, luôn tuân thủ quy trình chặt chẽ.

Lịch sử cho thấy rằng, các cuộc chiến tranh xâm lược sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là sự thống trị ở một mức độ nhất định về văn hóa. Lịch dương Gregorian được thiết kế bởi bàn tay La Mã, trộn lẫn với các ngày lễ thần học Kitô giáo, được thánh hóa bởi nhà thờ đã nhanh chóng phổ cập ở xã hội phương Tây, nơi có tới 32% dân số thế giới theo Cơ Đốc giáo, họ cùng chia sẻ ý thức hệ tôn giáo và 5 loại hình văn hóa.

Khi người Anh chinh phục thế giới, họ đã áp đặt văn hóa Châu Âu với sự kiêu ngạo, rằng đó là thứ văn hóa tốt đẹp nhất, mọi nền văn hóa khác đều là vô dụng. Bởi vậy, việc áp đặt lịch Gregorian và Tết Dương chỉ là một hành động tự nhiên, người Anh làm việc đó một phần theo cách tuyên truyền, nhưng phần lớn phải sử dụng đến vũ lực.

Về sau, phong trào thực dân đế quốc phương Tây cũng như vậy. Trong quá trình xâm lăng và đô hộ, những vùng đất bị cai trị bắt buộc phải sử dụng lịch Gregoria và Tết Dương, coi đó là tiêu chuẩn quốc tế về mặt hành chính. Điều đó lí giải tại sao khi Anh đi chinh phục thế giới, thì Pháp, Đức và Tây Ban Nha cũng truyền bá lịch Gregoria, Tết Dương được chỉ dẫn và ban hành từ Giáo hội Thành Roma. Rất vô tình, nửa sau thiên niên kỉ thứ 2, lịch Gregoria và Tết Dương thống trị tới ¾ lãnh thổ của các quốc gia trên toàn thế giới.

Nhưng vẫn có những quốc gia sử dụng lịch riêng: đó là Iran, Afghanistan và Nepal.

Những quốc gia này gọi lịch Gregoria là lịch Christian, dựa trên lịch Julius, mà bản chất chỉ là lịch La Mã sửa đổi. Mặc dù người dân ở 3 quốc gia đó không ăn Tết Dương, không sử dụng lịch Gregoria, nhưng khi cần phải quan hệ quốc tế, ví dụ như một cá nhân làm hộ chiếu vào châu Âu, thì bắt buộc họ vẫn phải dùng đến lịch Gregoria.

Tuy rằng lịch Gregoria không phải là phổ quát, từng quốc gia có thể sử dụng hệ thống lịch riêng, thậm chí sửa đổi hệ thống lịch cho phù hợp với quốc gia đó, nhưng việc sử dụng lịch riêng hay lịch sửa đổi đều có thể xuất hiện một số phiền toái. Ví dụ nước Nga trước đây sử dụng lịch Julius sửa đổi, chậm hơn lịch Julius 11 ngày, vì thế mà đoàn vận động viên Nga đến Olympic St Louis Hoa Kỳ năm 1904 bị muộn mất 11 ngày, đã gây tổn thất lớn cho thể thao nước Nga.

Đó là những lí do, để lịch Gregoria hôm nay mang đầy đủ tính dân sự, nó trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Khi lịch Gregoria được chính thức công nhận, thì hệ quả tất yếu là Tết Dương không chỉ thống trị với người phương Tây, mà cũng thống trị luôn cả địa cầu.

Nhưng, người Á Đông khác với người phương Tây là ở loại hình văn hóa thứ 6, tức là văn hóa “Gia đình – Family”. Văn hóa gia đình không tìm thấy ở các quốc gia châu Âu, nhưng lại là rường cột ở Đông Á, và văn hóa cốt lõi thậm chí có thể coi là cùng chung ý thức hệ như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Việt Nam, Hàn Quốc và Triều Tiên. Ngược lại, 5 loại hình văn hóa phổ biến ở phương Tây là tranh luận, mạng lưới, máy móc, hệ mặt trời và kim tự tháp; nhưng không thể tìm thấy ở các quốc gia Đông Á. Lí do để cộng đồng xã hội này khác với cộng đồng xã hội khác, chính là văn hóa, mà một trong những tính năng quan trọng nhất của văn hóa chính là lễ hội.

Đó là cách để bất kì một người Việt nào, dù ở đâu, thì họ cũng luôn cảm thấy mình thuộc về cộng đồng người Việt Nam chứ không phải là người Châu Âu.

Mọi nền văn hóa đều có những ngày lễ riêng!

Ngay từ thời cổ đại, những người trong cùng một nhóm sẽ có một số những niềm tin chung, từ đó hình thành nên nghi thức, cao hơn là nghi lễ tương ứng, để giúp cá nhân trong cộng đồng gắn kết lại với nhau. Khi xã hội phát triển, nghi lễ bị thay đổi hoặc biến mất, thì nghi thức vẫn còn và đó là cách để văn hóa hình thành.

Nền văn minh Á Đông, gồm các quốc gia như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc và Triều Tiên, thậm chí cả một số cộng đồng người Malaysia và Phillipine, đều có đặc điểm chung loại hình văn hóa gia đình, cùng chịu ảnh hưởng của nho giáo và đạo giáo, cùng sử dụng nông lịch; nên đã tạo ra tết cổ truyền khác với Tết Dương. Mọi nền văn minh đều có tết riêng, nếu không có lễ hội như tết đặc trưng cho nền văn hóa, thì các nền văn minh không còn gọi là văn minh nữa. Bởi vậy, chẳng có lí do gì để người Việt Nam từ bỏ Tết Nguyên Đán của mình.

Một số người đặt ra câu hỏi: tại sao Nhật Bản từ bỏ Tết Nguyên Đán?

Câu trả lời của tôi có thể là, Hofstede và Huib Wursten đã xếp Nhật Bản là loại hình văn hóa thứ 7, đây là văn hóa ở “trạng thái cân bằng động – dynamic equilibrium”. Điều rất thú vị mà Wursten phát hiện ra, là Nhật Bản là quốc gia duy nhất trên thế giới hội tụ đầy đủ cả 6 chiều (kích thước) văn hóa, điều đó vô cùng độc đáo. Ở thế cân bằng động, Nhật Bản hoàn toàn có thể bỏ Tết Nguyên Đán để ăn Tết Dương, giống như các quốc gia phương Tây mà không ảnh hưởng gì đến đời sống xã hội.

Một số người khác lại cho rằng Tết Nguyên Đán gây lãng phí tiền bạc và nghèo quốc gia!

Tôi cũng không đồng tình với ý kiến này. Rõ ràng phương Tây, tháng 12 có Lễ Tạ ơn, có mùa Giáng sinh kéo dài từ ngày 24 tháng 12 cho đến hết ngày 1 tháng 1 của Tết Dương. Nếu chúng ta ăn Tết Dương thì chỉ có duy nhất ngày 1 tháng 1, bởi vì hầu hết người Việt không phải Cơ Đốc giáo. Như vậy, việc ăn Tết Dương với người Việt chỉ đơn giản là được nghỉ 1 ngày với cảm xúc đặc biệt hơn những ngày nghỉ khác, chứ không có cảm xúc của tôn giáo và văn hóa. Tết Nguyên Đán kéo dài khoảng 7 ngày cũng chỉ tương đương với mùa Giáng sinh của phương Tây mà thôi, nên không thể nói là tốn kém hơn về tiền bạc. Đó là chưa kể, con người không phải máy móc, nên cần những ngày lễ đủ dài để nghỉ ngơi, để nạp năng lượng mới giúp tái tạo lại sức lao động. Tết cũng là dịp thăm người thân và bạn bè để giữ mối liên kết, để tạo ra những cơ hội mới trong làm ăn. Mặt khác, Tết Nguyên Đán cũng là lí do để mọi người mua nhiều hàng hóa, giúp kích cầu, hàng hóa lưu thông, kích thích tăng trưởng kinh tế.

Việt Nam có nên giảm ngày nghỉ Tết Nguyên Đán như một số ý kiến?

Tết Nguyên đán là kì lễ hội truyền thống lớn nhất ở Việt Nam, đó cũng là dịp đoàn tụ gia đình hiếm hoi trong một năm. Tết chỉ có 4 ngày, nhưng sẽ thêm 2 ngày nghỉ cuối tuần và 1 ngày chuyển sang làm bù trước hoặc sau tết, tổng số ngày nghỉ thường kéo dài khoảng 1 tuần. Theo cách này, một số người làm việc và sinh sống ở xa quê có thể về nhà trước đêm giao thừa, họ chỉ có đúng 3 ngày ăn tết rồi nhanh chóng trở lại nơi làm việc.

Một số nhân sĩ trí thức, trong đó có cả ĐBQH cho rằng, nghỉ tết Nguyên đán 7 ngày là quá dài, bởi vì thời gian đó các nước trên thế giới vẫn đang làm việc, nghỉ dài như vậy sẽ gây nên sự xáo trộn dẫn đến lãng phí không cần thiết.

Tôi không đồng ý với quan điểm rút ngắn thời gian nghỉ tết, bởi theo tôi biết, thì với nhiều người đơn giản 7 ngày nghỉ chưa đủ để họ đoàn tụ với các thành viên trong gia đình, họ chưa thực sự có cái tết đầm ấm của chính họ. Tôi lấy ví dụ, một người lao động sinh sống ở Sài Gòn, muốn về Hà Nội ăn Tết; thì tổng thời gian đi lại của họ mất 4 ngày, nếu Tết chỉ kéo dài 3 hoặc 4 ngày thì đó là điều không thể.

Tôi cho rằng Tết Nguyên Đán cần nghỉ từ 23 tháng chạp đến hết mùng 7 tháng Giêng!

Nguồn: Bác sĩ Trần Văn Phúc